Hướng tới đại hội đại biểu đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của đảng

Đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng
Ngày đăng 12/10/2020 17:33

Trang Thông tin điện tử Đảng bộ Thành phố trân trọng giới thiệu bài tham luận của đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Đại hội Quốc gia Hà Nội trình bày tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025 với chủ đề "Đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII của Đảng".

ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VÀO DỰ THẢO

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TRÌNH ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

                                                     Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội

I. NHẬN XÉT CHUNG

1. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII của Đảng được chuẩn bị công phu, bố cục chặt chẽ, khoa học; nội dung thể hiện tính toàn diện và khái quát cao, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam, thể hiện tính kế thừa và phát triển về tư tưởng, lý luận của Đảng ta; phản ánh được khát vọng, tâm tư, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

2. Chủ đề Đại hội đã thể hiện được toàn cảnh khát vọng, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng và thể nguyện mong mỏi của nhân dân trong việc xây dựng một đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ, văn minh, giàu mạnh.

3. Báo cáo chính trị có 15 mục, tương ứng với 15 nội dung là phù hợp. Các mục (nội dung) phản ánh đầy đủ, toàn diện sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, có nhiều điểm mới. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm ngắn gọn, cô đúc, thực chất, tập trung vào 07 thành tựu, 07 hạn chế, tồn tại, 04 nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó và 05 bài học kinh nghiệm rút ra sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII.

4. Đánh giá tình hình thế giới và đất nước những năm tới, những thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức và yêu cầu mới: ngắn gọn nhưng chi tiết, bám sát tình hình quốc tế, trong nước, và có dự báo cụ thể để làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối của Đảng trong nhiệm kỳ XIII và giai đoạn tới. Đặc biệt Mục XIV về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có nhiều điểm mới, từ tên gọi đến nội dung. Cái mới trong tên gọi lần này là thêm cụm từ “cầm quyền của Đảng”. Điều này hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền hiện nay. Bởi vì xét đến cùng, để cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh thì một trong những điều quan trọng nhất là xử lý vấn đề quyền lực của cán bộ, đảng viên. 

II. GÓP Ý VÀO MỘT SỐ NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

1. Góp ý cho định hướng phát triển đất nước nhiệm kỳ tới

Báo cáo chính trị đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng của đất nước trong nhiệm kỳ 5 năm tới. Ở góc độ một trung tâm đại học lớn của đất nước, Đảng bộ ĐHQGHN xin đóng góp ý kiến về một số vấn đề rất quan trọng mà Đảng ta đã xác định tập trung giải quyết, hoàn thiện trong thời gian tới. Cụ thể như sau:

1.1. Mục II về tầm nhìn và định hướng phát triển

(1) Góp ý về quan điểm chỉ đạo

- Ở quan điểm chỉ đạo thứ nhất, Dự thảo trình bày “3 kiên định”. Nên bổ sung thêm “một kiên định” là kiên định “Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”. Như vậy sẽ là (4 “kiên định”): “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

- Ở quan điểm chỉ đạo thứ hai, Dự thảo nêu gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ 4 nhiệm vụ. Nội dung này đã được trình bày ở Đại hội XII phản ánh đúng hiện thực. Trong tình hình hiện nay, để tiếp tục phát triển nhanh, bền vững đất nước, xác định các nhiệm vụ đó như là trụ cột, nên bổ sung thêm hai trụ cột liên quan đến đoàn kết và công tác đối ngoại; đồng thời nên điều chỉnh cụm từ “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Cụ thể sẽ là: “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa là nền tảng phát triển đất nước; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu thường xuyên; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu; thực hiện hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

(2) Góp ý về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030

- Bổ sung vào điểm thứ 5: Xây dựng văn hóa hòa bình và cơ chế giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong xã hội một cách hòa bình. Lý do: Các mâu thuẫn, xung đột tiềm ẩn ở mọi xã hội, trong đó có nước ta. Giống như ở nhiều nước khác, ở nước ta hiện nay tiềm ẩn mâu thuẫn, xung đột về nhiều mặt (dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, tầng lớp, địa phương...), nếu không được giải quyết kịp thời và đúng cách, những mâu thuẫn, xung đột đó có thể bùng phát, tạo ra sự bất ổn, khi đó việc khắc phục rất khó khăn. Vì thế, nhiều quốc gia đã xây dựng cơ chế giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong xã hội một cách hoà bình. Đi xa hơn, nhiều quốc gia đã thúc đẩy việc xây dựng văn hoá hoà bình, bằng cách tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các giá trị hoà bình trong cư xử, hành động... cho người dân, từ đó giảm thiểu và góp phần giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong xã hội theo cách thức ít đổ vỡ, thiệt hại nhất. Nếu đưa ý trên vào văn kiện, sẽ tạo nền tảng thúc đẩy văn hóa hoà bình, xã hội hòa bình ở nước ta trong thời gian tới. Đây vừa là một tiêu chí của một xã hội/quốc gia/dân tộc văn minh, vừa là điều kiện để tạo ra sự phát triển bền vững.

- Bổ sung vào điểm thứ 7: Tạo các cơ chế để thúc đẩy hoà hợp, hòa giải dân tộc. Lý do: Chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã kết thúc hơn 45 năm, đất nước đang đứng trước những thử thách mới, đòi hỏi phải có sự hoà hợp và chung sức của đồng bào cả trong và ngoài nước. Các văn kiện của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của nhà nước đều xem người Việt Nam ở nước ngoài đều là đồng bào, có chung nguồn cội. Dù vậy, hiện nay sự đồng thuận và chung sức của đồng bào, đặc biệt là người Việt Nam ở nước ngoài, trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân là do chưa làm tốt công tác hoà hợp, hoà giải dân tộc. Nếu đưa ý trên vào văn kiện, sẽ tạo nền tảng thúc đẩy các cơ chế, biện pháp thúc đẩy hoà hợp, hoà giải dân tộc, từ đó tạo ra sự gắn kết của người Việt trong và ngoài nước, góp phần gia tăng sức mạnh để đối phó với những thách thức sắp tới, đặc biệt là thách thức về an ninh, toàn vẹn lãnh thổ.

- Bổ sung vào điểm thứ 9 hoặc thứ 10: Thúc đẩy quản trị nhà nước tốt. Lý do: Quản trị nhà nước tốt (good governance) là một tập hợp các tiêu chí về tổ chức xã hội mà đã được cộng đồng quốc tế xem như là định hướng không thể bỏ qua trong thế kỷ 21. Các tiêu chí đó bao gồm pháp quyền, sự tham gia của người dân, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu lực, hiệu quả và hướng đến sự đồng thuận xã hội. Mặc dù các tiêu chí đó ít nhiều, trực tiếp và gián tiếp đã được đề cập trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, song chưa thành một chủ trương, chính sách có tính nguyên lý để dẫn dắt cải cách thể chế ở nước ta. Vì thế, nếu đưa ý trên vào văn kiện sẽ tạo nền tảng thúc đẩy cải cách thể chế theo hướng toàn diện, nhất quán, đồng bộ và vững chắc hơn, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của việc hội nhập quốc tế.

2.2. Về mục tiêu phát triển: Mục tiêu cụ thể nên chọn Phương án 1, phù hợp với đặc điểm tình hình và điều kiện của nước ta hơn.  

2.3. Mục III về đổi mới kinh tế

Cần nghiên cứu và quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu: các lĩnh vực Nhà nước cần phải độc quyền; các lĩnh vực, địa bàn không có đầu tư nước ngoài; cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa (nhà nước cần giữ: kết cấu hạ tầng, cảng biển, cảng hàng không, đường dây truyền tải điện, cung cấp nước sạch, thoát nước, chiếu sáng đô thị công viên… để tránh mâu thuẫn lợi ích giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, tư nhân cung cấp nước sạch thì đề nghị nhà nước phải bù lỗ).

2.4. Mục VII, về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam

So với Nghị quyết số 33-NQ/TW tại Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) và văn kiện Đại hội XII, lần này có khác. Nghị quyết 33 và Đại hội XII bàn về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Sự khác nhau hay trở lại diễn đạt đúng văn kiện Đại hội XII hay Nghị quyết 33 không thật sự quan trọng, không nhất thiết hay bắt buộc giống hay khác nhau. Vấn đề là tính hợp lý. Thay vì dung từ “phát triển”, Dự thảo lần này dùng từ “phát huy”; thay vì chỉ có từ “văn hóa”, nay bổ sung cụm từ “giá trị văn hóa”; thay vì cụm từ “con người Việt Nam”, nay thêm “sức mạnh con người Việt Nam”. Những thay đổi, bổ sung này cần được nghiên cứu tiếp, vì đặt trong phần viết về văn hóa. Riêng hai từ “sức mạnh” có thể là đúng, không sai, nhưng đã thật sự hợp lý chưa thì cần nghiên cứu kỹ hơn. Vì nói văn hóa là nói tới cái tinh tế, cái đẹp, cái giá trị - dù nhỏ - trong ứng xử, phản ánh những giá trị về chân, thiện, mỹ, trong đạo đức, lối sống, tâm hồn, nhân cách… Một con người có tính liêm sỷ, chính tâm là có văn hóa. Chúng ta có thể nói phát huy giá trị con người Việt Nam hay sức mạnh dân tộc. Vì vậy kiến nghị thay bằng tiêu đề “Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam” (tiêu đề này cũng phù hợp, thống nhất với điểm 7, mục III, phần thứ nhất của Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021-2025). Trong phần này, nên có một đoạn khẳng định văn hóa là nền tảng, thước đo của phát triển đất nước (không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội). Điều này phù hợp với cách trình bày ở mục V về “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”.

2.5. Mục V và mục VI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ

Cần đề ra giải pháp giám sát việc phân bổ và quyết toán ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đảm bảo tỷ lệ đề ra. Hiện nay, nước ta đang chuyển đổi mô hình đơn vị sự nghiệp công lập sang tự chủ, do vậy cần có những đánh giá hiệu quả của mô hình này.

Bên cạnh đó, hiện nay Đảng, Nhà nước đã xác định nhiều ngành, nhiều lĩnh vực được coi là then chốt, quốc sách hàng đầu, khó phân định. Do đó cần đặt giáo dục và đào tạo lên làm mục tiêu hàng đầu để đầu tư phát triển thật sự nhằm đào tạo nguồn nhân lực có năng lực trình độ chuyên môn cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố quyết định nhất đem lại sự phát triểt, thịnh vượng của đất nước và làm thay đổi căn bản trình độ dân trí.

2.6. Mục XIV về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Điểm 1. của mục V không nên đặt tựa đề là “xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện”. Bởi vì, cả 5 nội dung trong mục V đều là các nhiệm vụ quan trọng để hướng tới thực hiện mục tiêu là “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện”. Trong khi đó, điểm 1 chỉ đề cập bốn nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức thì chưa thể nói là toàn diện. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị điểm 1 của mục V nên đặt tựa đề là “Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức”. Nên bổ sung thêm ý “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí” thành “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản” vì báo chí và xuất bản là 2 cơ quan hoàn toàn độc lập và cùng có hiệu quả cho công tác xây dựng Đảng về tư tưởng.

2.7. Về hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo

Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIII đã thể hiện rất logic, chặt chẽ, khoa học; thể hiện sự đánh giá toàn diện về nội dung xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Các định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được thể hiện một cách chặt chẽ, có cơ sở khoa học và cụ thể, vừa toàn diện vừa nhấn mạnh vào những nội dung cơ bản nhất trong bối cảnh nước ta hiện nay và trong thời gian tới.

(1). Về định hướng

Dự thảo Báo cáo chính trị khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả

Định hướng trên thể hiện quyết tâm và ý chí cao của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xây dựng nhà nước pháp quyền là xu hướng chung của xã hội dân chủ văn minh. Tính tất yếu khách quan trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng trên cũng thể hiện sự phát triển trong quan điểm và định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng: đó là việc “hoàn thiện” nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay và việc nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong hệ thống chính trị. Nhà nước giữ vai trò hạt nhân của hệ thống chính trị, và hoàn thiện nhà nước pháp quyền chính là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị.

Dự thảo Báo cáo cũng nêu việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh rộng lớn hơn, đó là: xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả”. Quản trị quốc gia thể hiện tầm nhìn mới trong thời đại ngày nay, khi công việc quản trị không còn chỉ là của nhà nước, mà cần huy động nguồn lực từ khu vực tư, từ phía xã hội và cộng đồng để tạo nên sức mạnh chung, xây dựng quốc gia thịnh vượng. Trụ cột của quản trị quốc gia tốt chính là Nhà nước pháp quyền. Đây là điểm mới nổi bật trong Dự thảo văn kiện, phù hợp với sự phát triển của lý luận và thực tiễn quản trị nhà nước hiện đại – đang phát triển trên thế giới.

(2) Đóng góp vào các nội dung cụ thể về hoàn thiện từng cơ quan, bộ máy nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo.

a) Về Quốc hội và HĐND các cấp: Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với các định hướng về đổi mới tổ chức và hoạt động Quốc hội đã nêu trong dự thảo Báo cáo chính trị. Các định hướng này đã bám sát ba chức năng cơ bản nhất của Quốc hội là lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó đặc biệt quan trọng là công tác lập pháp. Chúng tôi cũng cho rằng Dự thảo đã có điểm mới và rất phù hợp với xu thế hiện tại của đất nước cũng như của thế giới, khi nhấn mạnh việc gắn kết hoạt động giám sát của Quốc hội với các hình thức kiểm tra giám sát xã hội và giám sát của nhân dân. Đây cũng chính là điểm mạnh trong giám sát của Quốc hội trong những năm gần đây, khi sức mạnh giám sát được tăng cường cùng với giám sát của xã hội và dựa trên những thành quả của cách mạng khoa học công nghệ.

Chúng tôi cho rằng có thể bổ sung thêm nội dung quan trọng liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đó chính là cơ chế bầu cử. Để đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội thì cơ chế bầu cử đóng vai trò trung tâm. Thông qua bầu cử có thể lựa chọn được những đại biểu xứng đáng vào bộ máy của Quốc hội và HĐND các cấp. Bầu cử là hình thức thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân, là phương pháp phổ biến nhất hiện nay để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Để bảo đảm tính đại diện của Quốc hội, việc đa dạng hoá thành phần đại biểu Quốc hội là hết sức cần thiết. Cần nghiên cứu thủ tục dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội và điều kiện trở thành ứng cử viên và trở thành đại biểu Quốc hội, nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng bầu cử, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội.

b) Về Chính phủ và bộ máy hành chính: Chúng tôi đánh giá rất cao nội dung cụ thể về đổi mới và hoàn thiện tổ chức hoạt động của Chính phủ theo hướng tập trung quản lý vĩ mô, nâng cao hiệu lực hiệu quả. Đây chính là xu hướng của các chính phủ hiện đại, phù hợp với nền quản trị nhà nước hiện đại. Định hướng này vì vậy cũng rất thống nhất với định hướng chung đã nêu trước đó về xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền quản trị quốc gia. Đây cũng chính là cơ sở cho mô hình Chính phủ kiến tạo phát triển - đã được khẳng định trong lý thuyết cũng như áp dụng thành công trong thực tiễn một số quốc gia trên thế giới và bước đầu được tiếp nhận ở Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng trong bối cảnh hiện thời của Việt Nam, có thể bổ sung thêm định hướng về đổi mới, hoàn thiện Chính phủ và các bộ ngành theo hướng “tăng cường năng lực quản lý giám sát thực hiện dịch vụ công; bảo đảm trách nhiệm giải trình”. Tăng cường năng lực trong quản lý, giám sát thực hiện dịch vụ công là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn hiện nay, khi các dịch vụ công dần dà được xã hội hoá rộng rãi. Trong bối cảnh đó, Chính phủ và các cơ quan hành chính cần được đào tạo năng lực để quản lý việc giao thầu, xã hội hoá dịch vụ công, và giám sát chặt chẽ việc thực thi các dịch vụ đó, tránh để xảy ra tình trạng tham nhũng hay lũng đoạn, lợi ích nhóm. Đồng thời trong bối cảnh hiện nay, rất cần đề cao trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan hành chính.

c) Về cơ quan tư pháp: việc Dự thảo văn kiện dành mục riêng định hướng về hoàn thiện hoạt động tư pháp là hết sức đúng đắn, bởi tư pháp là thành tố không thể thiếu trong Nhà nước pháp quyền. Toà án và các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp, các thiết chế bổ trợ tư pháp đều được nhắc đến với yêu cầu “nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động…”.

Nói đến Nhà nước pháp quyền thì không thể thiếu vai trò của toà án – trụ cột bảo đảm cho pháp quyền. Toà án là trụ cột của pháp quyền bởi nó bảo đảm cho sự trị vì của pháp luật. Do đó, chúng tôi đề xuất trong mục về tư pháp, cần có vị trí đặc biệt dành cho Toà án, bởi lẽ Toà án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Cải cách tư pháp thành công hay không, và nền tư pháp có hiệu quả, chất lượng hay không phụ thuộc chủ yếu vào Toà án. Bởi vậy có thể Dự thảo nên dành một dòng tách riêng cho toà án  theo hướng: “Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của toà án nhân dân, bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử và từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử các văn bản pháp luật của toà án nhân dân”. Nếu như Toà án là trọng tâm của nền tư pháp thì độc lập xét xử là nguyên tắc cốt lõi trong hoạt động của toà, có độc lập xét xử thì chất lượng và hiệu quả hoạt động của toà án mới được bảo đảm. Việc đưa nguyên tắc độc lập xét xử vào văn kiện cũng sẽ tạo nền tảng chính trị vững chắc cho cải cách hoạt động của Toà án, cho phép khắc phục những nhược điểm nhất định làm ảnh hưởng độc lập xét xử vẫn còn tồn tại đôi nơi trong hệ thống toà án ở nước ta.

Chúng tôi cho rằng cũng nên bổ sung nội dung  “đổi mới, kiện toàn tổ chức toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp”, do việc tổ chức lại hệ thống Toà án, Viện Kiểm sát hay các cơ quan bổ trợ tư pháp khác là một chủ trương đã được đề cập đến trong định hướng của Đảng và Nhà nước ta, cũng là một nội dung quan trọng để nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động tư pháp.

d) Về chính quyền địa phương: Những điểm mới và hiện đại trong phần về chính quyền địa phương đã được chọn lọc và ghi nhận, củng cố trong Dự thảo, đó là: tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo; thí điểm tổ chức chính quyền đô thị; phân cấp phân quyền (trong đó đặc biệt đề cao phân cấp ngân sách); giám sát chính quyền địa phương; sắp xếp lại đơn vị hành chính lãnh thổ. Những nội dung này thực sự là các định hướng cải cách then chốt, có ý nghĩa đột phá trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta; vừa kế thừa các định hướng đã nêu trong các Nghị quyết và văn bản pháp luật trước đó; vừa tập trung vào những nét cốt lõi nhất, ví dụ: phân phối ngân sách; phân cấp phân quyền và đề cao trách nhiệm.v.v.

Đặc biệt chúng tôi đánh giá cao định hướng về việc tổ chức bộ máy chính quyền địa phương đa dạng phù hợp với từng địa bàn. Điều mà Hiến pháp 2013 đã mở ra cơ hội, tuy nhiên Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 chưa thực hiện được. Sự khẳng định trong Dự thảo văn kiện sẽ tạo ra cơ sở chính trị để thực thi sự cải cách mang tính đột phá trong tổ chức chính quyền địa phương trong thực tiễn, tránh tình trạng đồng nhất, cào bằng trong tổ chức chính quyền địa phương.

Về Đổi mới mạnh mẽ phân cấp, phân công, phân quyền, uỷ quyền, -chúng tôi hoàn toàn nhất trí về nội dung định hướng, tuy nhiên có thể sắp xếp lại trật tự cho logic theo mức độ của việc phân chia quyền lực (giữa trung ương và địa phương) như sau: ‘Đổi mới mạnh mẽ phân quyền, phân cấp, phân công, uỷ quyền”. Phân quyền có mức độ cao hơn cả trong số đó, và cũng là xu hướng chung của nền hành chính hiện đại trên thế giới. Việc sắp xếp “phân quyền” lên hàng đầu tiên vừa phản ánh hợp lý các mức độ của phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương; vừa bám sát được xu nhướng cải cách hành chính mà các quốc gia hiện đại đã và đang thực thi: phân quyền, và Việt Nam đang từng bước áp dụng – để hướng tới chính quyền địa phương tự chủ và tự chịu trách nhiệm, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Về nội dung “bảo đảm quản lý thống nhất, kiểm soát kiểm tra chặt chẽ”, chúng tôi kiến nghị nên diễn đạt là:  “bảo đảm quản lý thống nhất, giám sát, kiểm tra chặt chẽ”. Cụm từ giám sát có hàm nghĩa rộng hơn “kiểm soát” và gắn với các hình thức giám sát của xã hội, của nhân dân, giám sát của toà án thông qua hoạt động xét xử. Đây cũng là những hình thức giám sát tương thích với các tiêu chí công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình – đề ra trong hoạt động của chính quyền địa phương. Đây cũng là những hình thức giám sát chính quyền địa phương đang được áp dụng rộng rãi ở các quốc gia phát triển, và cũng là những hình thức giám sát phù hợp với mô hình chính quyền địa phương phân cấp, phân quyền.

2.8. Về hoàn thiện đồng bộ thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Chúng tôi cơ bản nhất trí với các nội dung định hướng trong Dự thảo Báo cáo chính trị. Theo chúng tôi, các đặc trưng, bản chất, cơ chế vận hành, các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay về cơ bản đã được thống nhất. Tuy nhiên, nhìn nhận sâu hơn có thể thấy nổi lên một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ:

Một là, về tổng thể, lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa được định hình một cách có hệ thống, các đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa được xác định thật rõ và có được sự nhất trí cao, đặc biệt là tính định hướng XHCN của mô hình thể chế này mặc dù đã có một số nhận thức chung cơ bản. Cần tiếp tục cụ thể hoá những nội dung phản ánh định hướng XHCN trong phát triển kinh tế đất nước nói chung, và trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng để đưa công tác lý luận theo kịp và ngang tầm với sự phát triển của thực tiễn.

Hai là, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc; thu hút mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Song trước đó, nên tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, hiện đại hoá đất nước gắn với từng bước phát triển kinh tế số, dựa chủ yếu trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cần được xem là thể chế giữ vai trò quyết định trong thể chế phát triển.

Ba là, cần làm rõ hơn những công cụ để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với thể chế kinh tế thị trường. Cho đến nay nhận thức về công cụ định hướng XHCN được hiểu là chính sách, pháp luật để tái phân phối kết quả tăng trưởng, sử dụng nguồn lực nhà nước để thực hiện các mục tiêu xã hội… Bên cạnh đó là quan niệm cho rằng doanh nghiệp nhà nước là công cụ vật chất để định hướng XHCN với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Vậy có thể dùng những công cụ gì đảm bảo định hướng XHCN đối với kinh tế thị trường? Doanh nghiệp nhà nước có phải là/nên là công cụ đảm bảo định hướng XHCN không?

Bốn là, trong các chủ trương, chính sách hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng luôn quán triệt quan điểm kinh tế nhà nước là chủ đạo. Vậy cần hiểu như thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước? phải chăng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chính là khả năng duy trì định hướng phát triển đã lựa chọn? Kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo bằng cách nào, thông qua công cụ gì là phù hợp để không chèn lấn và làm giảm không gian kinh tế của khu vực tư nhân? Cần thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, song kinh tế nhà nước nên giữ vai trò dẫn dắt, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố, phát triển, kinh tế tư nhân ỉà một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Năm là, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo hướng đẩy nhanh việc xử lý nợ, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; thúc đẩy đổi mới quản trị doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả, đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Đồng thời cần tiếp tục khuyến khích và tạo môi trường thể chế thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển thành một động lực chính trong nền kinh tế. /.

  LIÊN KẾT WEBSITE