Hướng tới đại hội đại biểu đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của đảng

Tóm tắt Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khoá XVI trình Đại hội đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ thành phố Hà Nội
Ngày đăng 12/10/2020 08:15

Trang Thông tin điện tử Đảng bộ thành phố Hà Nội trân trọng đăng tải "Tóm tắt Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khoá XVI trình Đại hội đại hội đại biểu lần thứ XVII Đảng bộ thành phố Hà Nội".

TÓM TẮT BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ KHÓA XVI TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ XVII ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-----

Hà Nội là Thủ đô, trái tim của cả nước, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Đảng bộ Hà Nội với 50 tổ chức đảng trực thuộc và có số lượng đảng viên đông chiếm gần 10% đảng viên của toàn Đảng, là một Đảng bộ lớn nhất cả nước, có truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh. Đại hội đại biểu lần thứ XVII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của toàn Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Hà Nội.

Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định hướng cho Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và các tầng lớp Nhân dân Thủ đô: Gương mẫu xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy ý chí, phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến, anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

 

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XVI

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ (NHIỆM KỲ 2015 - 2020)

         I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thủ đô đã thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, với nhiều cách làm sáng tạo và quyết liệt, nỗ lực, quyết tâm thực hiện, đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô và Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ Thành phố đi vào cuộc sống. Thành ủy đã triển khai kịp thời, hiệu quả 8 chương trình công tác lớn toàn khóa, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo 5 nhiệm vụ trọng tâm, 3 khâu đột phá và đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện, có nhiều dấu ấn nổi bật. Thành phố đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức 16/ 16 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVI, có 4 chỉ tiêu vượt kế hoạch, trong đó có 3 chỉ tiêu hoàn thành sớm 2 năm (tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới, tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo). Cụ thể như sau:

1. Kinh tế Thủ đô đạt tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch tích cực; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh được cải thiện. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2016-2020 ước tăng 7,39%; GRDP bình quân đầu người ước đạt 5.420 USD, tăng 1,5 lần so với năm 2015, gấp 1,8 lần bình quân cả nước. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng; nông nghiệp giảm còn 2,09%. Tài chính, ngân sách luôn ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016-2020 gấp 1,64 lần giai đoạn 2011-2015. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, tích cực hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo;  khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng, sau sắp xếp, hiệu quả hoạt động, thu nhập của người lao động được tăng lên; khu vực kinh tế tư nhân phát triển, tiếp tục phát huy vai trò là một động lực của nền kinh tế. Mô hình kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX được quan tâm củng cố, hoạt động ngày càng đa dạng, tỷ lệ hoạt động hiệu quả ngày càng nâng cao. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kết quả vượt bậc, giai đoạn 2016-2020 đạt 25 tỷ USD, gấp 3,9 lần giai đoạn 2011-2015. Mặc dù chỉ chiếm 1% về diện tích, 8,5% về dân số nhưng Hà Nội đóng góp trên 16% GDP, 18,5% thu ngân sách, 20% thu nội địa và 8,6% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước.

2. Công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý, phát triển đô thị có chuyển biến tích cực. Diện mạo Thủ đô có nhiều thay đổi, ngày càng sáng, xanh, sạch đẹp, khang trang, văn minh, hiện đại hơn. Hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được quan tâm đầu tư, một số công trình, dự án quy mô lớn, hiện đại được hoàn thành và khởi công. Công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đất đai, quản lý đô thị, trật tự, an toàn giao thông, trật tự, kỷ cương xã hội được tăng cường. Nếp sống văn minh đô thị có chuyển biến tích cực.

3. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả toàn diện, nổi bật. Chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, diện mạo nông thôn khởi sắc rõ nét. Đến cuối năm 2020, có 10 huyện và 371 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 96,1%, hoàn thành trước hạn 2 năm mục tiêu đề ra, dẫn đầu cả nước về số xã đạt chuẩn nông thôn mới, với nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao; triển khai và xây dựng được 15 xã nông thôn mới nâng cao. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn gấp 1,36 lần so với năm 2016.

4. Phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh đạt nhiều kết quả tích cực. Đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân ngày càng phong phú. Các di sản văn hóa - lịch sử được quan tâm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị, gắn với phát triển kinh tế du lịch. Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư. Chi đầu tư phát triển văn hóa tăng 30% so với nhiệm kỳ trước. Giao lưu văn hóa trong nước, quốc tế được mở rộng; nhiều sự kiện văn hóa nghệ thuật lớn, uy tín, chất lượng cao được tổ chức. Hà Nội là địa phương đầu tiên của Việt Nam chính thức trở thành thành viên mạng lưới các “Thành phố sáng tạo” của UNESCO. Các loại hình báo chí phát triển mạnh mẽ, nội dung và hình thức ngày càng phong phú, hấp dẫn, phản ánh được dòng chảy của xã hội, bám sát nhiệm vụ chính trị của Thành phố. Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh được tập trung chỉ đạo, với nhiều giải pháp, mô hình thiết thực; xây dựng các mô hình làng văn hóa, thôn, tổ dân phố văn hóa, gia đình văn hóa dần đi vào thực chất. Việc ban hành, thực hiện quy tắc ứng xử nơi công sở và nơi công cộng được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tình, hưởng ứng thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực.

5. Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đạt kết quả quan trọng. Giáo dục và đào tạo tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô, mạng lưới trường lớp, về chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn, về số học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. 100% giáo viên đứng lớp đạt chuẩn, tỷ lệ trên chuẩn cao. Tỷ lệ trường chuẩn Quốc gia năm 2020 đạt 75%, hoàn thành kế hoạch sớm 2 năm. Chất lượng giáo dục đại học trên địa bàn được nâng cao, nhiều trường tích cực đổi mới, tiệm cận với xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới. Giáo dục nghề nghiệp tiếp tục có bước phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt 70,2%, tăng cao so với năm 2015 (53,14%), góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô.

6. Phát triển khoa học và công nghệ được đẩy mạnh. Chú trọng khai thác, phát huy tiềm lực, nhất là trí tuệ, tiềm năng “chất xám” của đội ngũ trí thức, các trường, viện, cơ sở nghiên cứu, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đổi mới cơ chế quản lý các nhiệm vụ khoa học, công nghệ; kết quả nghiên cứu được ứng dụng hiệu quả hơn vào thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô. Tiềm lực khoa học, công nghệ được quan tâm đầu tư. Tích cực phát triển thị trường khoa học, công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm khoa học, công nghệ.

7. Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân có nhiều đổi mới và tiến bộ; chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao; đầu tư nâng cấp các bệnh viện, cơ sở y tế ở cả Thành phố, cấp huyện và cấp xã; nâng cao y đức và thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên y tế, nhất là trong công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua. Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em có bước tiến bộ rõ rệt. Tiếp tục dẫn đầu cả nước về thể thao thành tích cao; phong trào thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ, đóng góp nổi bật và quan trọng vào phong trào chung của cả nước. Lĩnh vực lao động, việc làm của Thủ đô có bước phát triển, thực hiện hiệu quả chính sách đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường. Các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội của Nhà nước được thực hiện đúng, đủ và kịp thời; ban hành và thực hiện nhiều chính sách đặc thù, riêng có của Hà Nội về phúc lợi xã hội. Trong nhiệm kỳ, đã xây dựng 10.000 nhà ở cho người có công, hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 7.565 nhà ở cho hộ nghèo; Thành phố cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều. Tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 90,1%. Công tác phòng chống, tệ nạn xã hội được quan tâm, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm và tệ nạn xã hội.

8. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu được thực hiện chủ động, tích cực. Hoàn thành điều tra, đánh giá tài nguyên đất, nước, khoáng sản; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt nhiều kết quả. Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm triển khai; xử lý rác thải, nước thải, ô nhiễm ao, hồ,… bước đầu được cải thiện. Xây dựng và triển khai các kịch bản về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với thảm họa.

9. Tiếp tục giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu trọng điểm, hoạt động của các cơ quan Trung ương và quốc tế, các sự kiện chính trị, ngoại giao, văn hóa diễn ra trên địa bàn. Hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Đã tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cấp Thành phố. Lực lượng vũ trang Thủ đô là lực lượng xung kích trên tuyến đầu phòng, chống đại dịch Covid-19 hiệu quả. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang Thủ đô vững mạnh toàn diện.

10. Quan hệ đối ngoại, hội nhập, hợp tác phát triển được mở rộng, tạo dấu ấn quan trọng, nâng cao uy tín, vị thế của Thủ đô trong khu vực và trên thế giới. Chú trọng quan hệ hợp tác quốc tế, quan hệ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tăng cường quảng bá văn hóa, giao lưu hữu nghị, góp phần thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài. Đến nay, Hà Nội đã có quan hệ hữu nghị, hợp tác với hơn 100 thủ đô và thành phố lớn trên thế giới. Công tác phối hợp với các cơ quan Trung ương, hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố trong nước được đẩy mạnh; Thành phố đã có thỏa thuận hợp tác với trên 50 địa phương. Công tác đối ngoại của Thành phố ngày càng thiết thực, hiệu quả góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Thủ đô và đất nước trên trường quốc tế.

11. Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên. Cải cách hành chính được triển khai đồng bộ, toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý, điều hành, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và doanh nghiệp. Hoạt động của HĐND các cấp và Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố được đánh giá là điểm sáng trong cả nước. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của UBND các cấp được tăng cường. Năm 2019, chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tăng 15 bậc lên vị trí thứ 9; chỉ số Cải cách hành chính cấp tỉnh (PAR INDEX) xếp thứ 2 (tăng 7 bậc so với 2015).

12. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội được sắp xếp, củng cố tinh gọn về tổ chức bộ máy; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động ngày càng thiết thực, hiệu quả; quyền làm chủ của Nhân dân được phát huy, tạo đồng thuận cao trong xã hội, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Thành phố.

13. Công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh và đạt được kết quả tích cực. Đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân và thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp từ chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế đến hình sự. Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

14. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng được triển khai thực hiện đồng bộ, đạt nhiều kết quả quan trọng.

Công tác chính trị, tư tưởng được nâng cao chất lượng gắn với thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc triển khai, thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được tiến hành chủ động, có hiệu quả. Phát động hai Giải báo chí về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Thành phố và về phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, thu hút đông đảo các cơ quan báo chí ở Trung ương, địa phương; các nhà báo, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia, hưởng ứng; tạo sức lan tỏa tốt trong xã hội.

Công tác củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được chú trọng. Sắp xếp, củng cố, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng đồng bộ với hệ thống chính trị từ Thành phố đến cơ sở với phương châm thận trọng, từng bước, khoa học, đúng quy định gắn với làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thực hiện chính sách cán bộ. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu, đi đầu thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học, dân chủ Nghị quyết Trung ương 6, 7 (khóa XII) và Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trong nhiệm kỳ, đã thực hiện sắp xếp, củng cố, kiện toàn các đảng ủy trực thuộc Thành ủy từ 59 đảng bộ còn 50 đảng bộ; sắp xếp giảm: 5 đơn vị hành chính cấp xã, 79/119 ban chỉ đạo của Thành ủy, UBND Thành phố, 21/26 ban quản lý dự án và 121/401 đơn vị sự nghiệp công lập. Triển khai Đề án 06-ĐA/TU, Đề án 21-ĐA/TU, rà soát, sắp xếp giảm 2.708 thôn, tổ dân phố (tỷ lệ 34,0%), giảm 8.900 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Sau sắp xếp giữ được ổn định tình hình và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Thành phố. Đặc biệt, đã nghiên cứu xây dựng Đề án trình Bộ Chính trị và được Quốc hội khóa XIV thông qua Nghị quyết về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.

Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, sáng tạo, hiệu quả. Thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ từ đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, luân chuyển và thực hiện chính sách cán bộ. Trong đó, Thành ủy luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức danh, đào tạo kỹ năng thực tiễn cho cán bộ nguồn quy hoạch; ban hành Quyết định “về đánh giá hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống chính trị Thành phố”, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên công chức, viên chức.

Công tác kiểm tra, giám sát được coi trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, địa bàn phức tạp. Chú trọng kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm, mở rộng giám sát chuyên đề, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo. Trong nhiệm kỳ đã thi hành kỷ luật 59 tổ chức đảng, 4.143 đảng viên, qua đó đã góp phần giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm; tạo được niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng bộ, chính quyền Thành phố.  

Công tác dân vận được quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Ban hành và thực hiện có hiệu quả Quyết định 2200-QĐ/TU của Thành ủy về tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Công tác dân vận của chính quyền, lực lượng vũ trang đạt nhiều kết quả tốt. Công tác dân tộc tiếp tục được quan tâm, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được định hướng theo đúng tôn chỉ, mục đích, đúng pháp luật.

Chất lượng, hiệu quả công tác nội chính và cải cách tư pháp được nâng lên. Triển khai Nghị quyết 15-NQ/TU “về xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, củng cố cơ sở đảng yếu kém, giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội”, Chỉ thị 15-CT/TU về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo”, đã củng cố 226/226 TCCSĐ (đạt 100%) và giải quyết các vụ việc phức tạp góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từ cơ sở. Công tác điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, nhất là các vụ án tham nhũng, kinh tế. Hà Nội là địa phương đầu tiên phê duyệt quy hoạch hệ thống các cơ quan nội chính; quan tâm đầu tư xây dựng trụ sở các cơ quan tư pháp từ Thành phố đến các quận, huyện.

Phương thức lãnh đạo của Thành ủy và các cấp ủy đảng được đổi mới mạnh mẽ, vừa toàn diện, vừa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm; trong nhiệm kỳ đã ban hành 6 nghị quyết chuyên đề có tính đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả tích cực. Truyền thống đoàn kết, thống nhất, hợp tác, trách nhiệm, bản lĩnh trong cấp ủy và tổ chức đảng các cấp được giữ vững và phát huy, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn nhất, khi có biến động về lãnh đạo chủ chốt hay khi gặp thiên tai, dịch bệnh nghiêm trọng.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM

Báo cáo chính trị chỉ rõ 7 nhóm hạn chế, yếu kém chủ yếu trên các lĩnh vực:

- Lĩnh vực phát triển kinh tế chưa tạo được các “đột phá lớn” và chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô. Dịch vụ tăng trưởng thấp hơn mức tăng GRDP chung. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao còn chưa nhiều. Việc sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước chưa đạt mục tiêu. Khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự là một động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế. Hoạt động liên kết vùng giữa Thủ đô với các địa phương trong vùng Thủ đô và cả nước chưa thật hiệu quả. Các chỉ số SIPAS  và PAPI  còn ở vị trí thấp so với cả nước.

- Chất lượng quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, trật tự xây dựng, an toàn giao thông vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa thấp, phát triển đô thị chưa đồng đều và chưa tương xứng với tiềm năng; xử lý ô nhiễm môi trường không khí, kiểm soát và xử lý nước thải... chưa đạt kế hoạch. Tiến độ triển khai một số dự án hạ tầng kỹ thuật thiết yếu còn chậm. Công tác phòng, chống cháy nổ còn hạn chế. Việc xử lý úng ngập, ùn tắc giao thông còn nhiều thách thức.

- Công tác bảo tồn, khai thác, phát huy vai trò của văn hóa chưa tương xứng với các tiềm năng, thế mạnh, vị thế Thủ đô. Phát triển công nghiệp văn hóa; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh chưa đạt kết quả như mong muốn. Văn hóa ứng xử của người dân trong gia đình và nơi công cộng chuyển biến chưa đồng đều, thiếu bền vững.

- Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực quan trọng trong phát triển. Kết nối hoạt động nghiên cứu giữa các nhà khoa học với thị trường và doanh nghiệp nhìn chung còn yếu. Thị trường khoa học, công nghệ ở Thủ đô còn nhiều hạn chế. Hiệu quả giáo dục đạo đức học đường, nếp sống, ứng xử văn minh ở các cấp học có lúc, có nơi còn hạn chế; chất lượng đào tạo nghề chưa theo kịp yêu cầu của thị trường lao động.

- Chất lượng khám, chữa bệnh chưa đồng đều ở các tuyến; công tác y tế dự phòng, nhất là ở cơ sở chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng nguy cơ tái nghèo còn cao. Chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị chậm cải thiện.

- Công tác nắm bắt, dự báo tình hình và giải quyết khiếu nại, tố cáo, mâu thuẫn, xử lý một số vụ việc phát sinh còn hạn chế. Tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp.

- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn chưa cao; cá biệt, có cấp ủy mất vai trò lãnh đạo, chỉ đạo. Một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cá biệt có đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm, kỷ luật và bị xử lý hình sự.

Những hạn chế, yếu kém có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu và đã được nêu cụ thể tại Báo cáo chính trị.

III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

         Báo cáo chính trị nêu 5 bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:

Thứ nhất, quán triệt và chấp hành nghiêm túc, vận dụng sáng tạo, có hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào tình hình thực tiễn của Thủ đô; chủ động, tích cực tranh thủ sự phối hợp, giúp đỡ của các bộ, ban, ngành Trung ương, các tỉnh, thành, các tổ chức quốc tế,…

Thứ hai, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, hợp tác, trách nhiệm của Đảng bộ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; khơi dậy lòng tự hào, ý chí, khát vọng vươn lên, tạo động lực và không khí tích cực trong thực hiện các nhiệm vụ của Thành phố.

Thứ ba, coi trọng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn trúng và đúng những vấn đề quan trọng, tập trung chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả.

Thứ tư, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, gắn bó mật thiết, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng.

Thứ năm, chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng, nhân rộng gương điển hình; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên.

 

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ NHỮNG TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ GIAI ĐOẠN 5 NĂM 2020-2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

 

I. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN

1. Bối cảnh thế giới, khu vực, trong nước và Thủ đô thời gian tới

Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; vị thế và tiềm lực của đất nước sau gần 35 năm đổi mới đã lớn mạnh hơn nhiều. Với vai trò và vị thế Thủ đô, Hà Nội có những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen nhưng thời cơ, thuận lợi vẫn là chủ đạo. Cùng với cả nước, thế, lực và uy tín của Thủ đô ngày càng được nâng cao; Hà Nội tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Trung ương, sự hợp tác chặt chẽ của các bộ, ban, ngành và địa phương trong cả nước; đặc biệt là có sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và các tầng lớp Nhân dân. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức nảy sinh trong quá trình đô thị hóa nhanh; tăng trưởng chưa thực sự ổn định, bền vững; tình trạng quá tải đối với hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội; quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; sự chống phá thường xuyên, quyết liệt của các thế lực thù địch; tình trạng suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống và tiêu cực khác trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa được khắc phục triệt để…

2. Mục tiêu tổng quát đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển Thủ đô đến năm 2045

Đến năm 2025, xây dựng Đảng bộ Thành phố có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; phát triển nhanh và bền vững Thủ đô theo hướng đô thị xanh, thành phố thông minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao trong nước và khu vực; cơ bản hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, GRDP/người đạt 8.300-8.500 USD.

Đến năm 2030, Hà Nội trở thành thành phố “xanh - thông minh - hiện đại”; phát triển năng động, hiệu quả, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; hoàn thành công nghiệp hóa Thủ đô; GRDP/người đạt 12.000-13.000 USD.

Đến năm 2045, Hà Nội có chất lượng cuộc sống cao; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, bền vững; là Thành phố kết nối toàn cầu, có sức cạnh tranh quốc tế, GRDP/người đạt trên 36.000 USD.

3. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025, gồm 4 nhóm với 20 chỉ tiêu cụ thể:

3.1. Về kinh tế có 6 chỉ tiêu: (1) Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025: 7,5-8,0%; trong đó: Dịch vụ: 8,0-8,5%; Công nghiệp và xây dựng 8,5-9,0%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản: 2,5-3,0%. (2) Cơ cấu kinh tế năm 2025: Dịch vụ 65,0-65,5%; Công nghiệp và xây dựng 22,5-23,0%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản 1,4-1,6%. (3) GRDP bình quân/người: 8.300-8.500 USD. (4) Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: 3,1 - 3,2 triệu tỷ đồng (giá hiện hành, tăng 12,5-13,5%/năm). (5) Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP khoảng 30%. (6) Tốc độ tăng năng suất lao động từ 7,0-7,5%.

3.2. Về văn hóa - xã hội có 6 chỉ tiêu: (7) Tỷ lệ tổ dân phố được công nhận và giữ vững danh hiệu Tổ dân phố văn hóa: 75%; Thôn, làng được công nhận và giữ vững danh hiệu Thôn, Làng văn hóa: 65%; Gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu Gia đình văn hóa: 86-88%. (8) Tỷ lệ trường công lập (Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông) đạt chuẩn quốc gia: 80-85%. (9) Số giường bệnh/vạn dân: 30-35; Số bác sỹ/vạn dân: 15; Duy trì 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. (10) Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 75-80%; Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ: 55-60%. (11) Tỷ lệ thất nghiệp thành thị: dưới 3%. (12) Không còn hộ nghèo và hộ tái nghèo theo tiêu chuẩn của Thành phố.

3.3. Về quy hoạch, đô thị, nông thôn và môi trường có 5 chỉ tiêu: (13) Tỷ lệ huyện đạt chuẩn nông thôn mới: 100%; Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao: 40%, nông thôn mới kiểu mẫu: 20%; Hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới cấp Thành phố. (14) Tỷ lệ đô thị hóa: 60-62%; Tỷ lệ diện tích phủ kín của các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu: 100%. (15) Tỷ lệ hộ dân thành thị và nông thôn được cung cấp nước sạch: 100%. (16) Tỷ lệ các chất thải và nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn về môi trường: Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn: 100%; Tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý: 100%; Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường: 100%; Tỷ lệ cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề (đang hoạt động và xây dựng mới) có trạm xử lý nước thải: 100%; Tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý: 50-55%. (17) Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng: 30-35%.

3.4. Về xây dựng Đảng có 3 chỉ tiêu: (18) Số lượng đảng viên mới được kết nạp hằng năm: 9.000-10.000 đảng viên. (19) Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm: Trên 75%. (20) Tỷ lệ tổ chức đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm: Trên 75%.

4. Những định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá

4.1. Các định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm

(1) Tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu, bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thí điểm tổ chức thành công mô hình chính quyền đô thị, củng cố chính quyền nông thôn. Đẩy mạnh “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; nâng cao năng lực, tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu; chủ động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Thành phố.

(2) Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với thực hiện đồng bộ 3 đột phá chiến lược. Đi đầu trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sớm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với thành phố Hà Nội, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô. Đẩy mạnh cải cách hành chính; tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế theo các chuẩn mực của OECD.

(3) Phát triển nhanh và bền vững; giải quyết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Quản trị xã hội hiệu quả; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân, giảm chênh lệch mức sống giữa khu vực đô thị và nông thôn. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát triển văn hóa và con người Hà Nội trên cơ sở phát huy truyền thống Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, ngàn năm văn hiến và anh hùng; Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, phát triển toàn diện với những giá trị nhân văn và tinh thần yêu nước, yêu Hà Nội sâu sắc, tôn trọng pháp luật; giàu lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí, khát vọng phát triển, là sức mạnh nội sinh, động lực tinh thần to lớn để phát triển Thủ đô.

(4) Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý đô thị, dân cư, trật tự xây dựng, an toàn giao thông, bảo đảm kỷ cương, văn minh đô thị. Nâng cao chất lượng, hiệu quả chỉnh trang, phát triển, hiện đại hóa đô thị gắn với phát triển kinh tế đô thị theo hướng bền vững. Tiếp tục đẩy mạnh chất lượng xây dựng nông thôn mới, cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu; tạo chuyển biến căn bản đối với các vấn đề dân sinh cấp bách về giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông... Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào quản lý, khai thác, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

(5) Xây dựng lực lượng vũ trang Thủ đô vững mạnh, toàn diện, ưu tiên hiện đại hóa một số lực lượng; xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh nhân dân vững chắc, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm hiệu quả; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của Trung ương và Thành phố, các sự kiện quốc gia, quốc tế. Mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Đảng bộ, chính quyền và giao lưu Nhân dân; tăng cường phối hợp, hợp tác với các ban, bộ, ngành Trung ương và liên kết các địa phương, nhất là các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập, tăng cường vị thế, uy tín và vai trò của Thủ đô trong khu vực và quốc tế.

4.2. Các khâu đột phá

(1) Ưu tiên hiện đại hóa, phát triển nhanh và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; tập trung phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng dữ liệu, kết nối liên thông, đồng bộ, thống nhất, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số.

(2) Tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; tăng cường công tác tổ chức thực thi pháp luật, nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, quản lý đô thị; cơ bản hoàn thành xây dựng chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số; tạo chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả phục vụ doanh nghiệp và Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

(3) Phát triển nguồn nhân lực. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Khai thác, phát huy tối đa tài nguyên chất xám, nguồn lực trí tuệ. Đề cao ý thức trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đưa văn hóa và con người Hà Nội thực sự trở thành giá trị tinh thần to lớn, nguồn lực quan trọng quyết định phát triển Thủ đô.

II. NHỮNG NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TRONG GIAI ĐOẠN 2020 - 2025

1. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ Thành phố trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tiếp tục chỉ đạo thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) gắn với đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tiếp tục đổi mới, sắp xếp, kiện toàn, hoàn thiện tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị các cấp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và các cấp ủy đảng; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên ở những địa bàn, lĩnh vực quan trọng. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động công tác dân vận. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nội chính; đẩy mạnh cải cách tư pháp. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng. Đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

2. Tiếp tục phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Thực hiện các giải pháp đột phá, đồng bộ tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại kinh tế Thủ đô dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tập trung thu hút mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng, phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của Thủ đô.

3. Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị theo hướng thông minh, xanh và bền vững. Đổi mới công tác quy hoạch và tăng cường quản lý quy hoạch. Phát triển đồng bộ, hiện đại và mở rộng quy mô hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị. Đầu tư mở rộng khu vực đô thị, xây dựng một số đô thị vệ tinh và đô thị thông minh, gắn với tăng cường quản lý đất đai, trật tự xây dựng, an toàn giao thông, kỷ cương và văn minh đô thị.

4. Hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới cấp Thành phố, triển khai mạnh mẽ nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu.  Thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn; tăng cường nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, gắn với cơ cấu lại ngành nghề nông thôn, theo hướng phát triển bền vững; nghiên cứu xây dựng nông thôn mới mang bản sắc riêng của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Hiện đại hóa và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn. Phát triển nông thôn mới gắn với định hướng đô thị hóa, cùng với tái cơ cấu và phát triển kinh tế ngoại thành. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, gắn với thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với nông dân.

5. Phát huy giá trị văn hóa và con người Hà Nội, khơi dậy ý chí, niềm tự hào, khát vọng phát triển của Nhân dân Thủ đô. Kiên trì phát triển, phát huy giá trị văn hóa gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Đẩy mạnh xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, tạo chuyển biến căn bản trong thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh đô thị; giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức thượng tôn pháp luật, nhất là thế hệ trẻ. Bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tình yêu Hà Nội, truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, gương mẫu về đạo đức, lối sống, khát vọng đổi mới sáng tạo, ý chí vươn lên của mỗi người dân Thủ đô. Bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

6. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát huy tối đa các nguồn lực để xây dựng Thủ đô thực sự là một trung tâm lớn, tiêu biểu của cả nước về giáo dục, đào tạo chất lượng cao và hội nhập quốc tế; chú trọng giáo dục phẩm chất, nhân cách, văn hóa, lịch sử đi đôi với đào tạo năng lực nhận thức, tư duy đổi mới, sáng tạo. Tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng chiến lược trọng dụng nhân tài. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; đẩy mạnh hướng nghiệp phổ thông. Tập trung nghiên cứu, xây dựng và phát triển “hệ sinh thái học tập sáng tạo”.

7. Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển Thủ đô hiện đại, văn minh; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, nhằm tạo động lực phát triển mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô. Đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước xây dựng thành phố thông minh.

8. Tiếp tục phát triển hệ thống an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống của Nhân dân Thủ đô. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm hệ thống y tế công bằng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt công tác dân số - gia đình, chăm sóc trẻ em và người cao tuổi, thực hiện bình đẳng giới. Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, tiếp tục nâng cao thể chất người Hà Nội. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội.

9. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, nước và cát trên địa bàn Thành phố. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường; tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm. Thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

10. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô trong mọi tình huống. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng khu vực phòng thủ Thành phố ngày càng vững chắc; lực lượng vũ trang Thủ đô vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, sự kiện quan trọng, tạo môi trường hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn.

11. Tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, hợp tác phát triển, nâng cao uy tín, vị thế Thủ đô. Đổi mới sáng tạo trong công tác đối ngoại; chú trọng nâng cao năng lực, chất lượng hội nhập quốc tế; đẩy mạnh đối ngoại nhân dân; tăng cường tuyên truyền, thông tin đối ngoại, quảng bá, giới thiệu về Thủ đô với bạn bè quốc tế. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố trong cả nước.

12. Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp gắn với thực hiện thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng đại biểu của HĐND các cấp và của Đoàn đại biểu Quốc hội. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của UBND và cơ quan hành chính các cấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện căn bản thứ hạng các chỉ số PAPI, SIPAS của Thành phố.

13. Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, hoạt động của các hội quần chúng Thành phố, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân Thủ đô. Nắm bắt, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân; đổi mới hoạt động hướng mạnh về cơ sở; thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; thực hiện mục tiêu đoàn kết tôn giáo. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động trong Nhân dân Thủ đô.

14. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường công tác tuyên truyền; kiên trì xây dựng văn hóa không tham nhũng. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng bộ chính quyền các cấp.

*

*             *

Nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đánh dấu một bước phát triển mới của Thủ đô Hà Nội, với nhiều kết quả quan trọng, tiếp nối truyền thống Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội ngàn năm văn hiến, Thủ đô anh hùng, Thành phố vì hòa bình,Thành phố sáng tạo. Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ thành phố Hà Nội khẳng định tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh tổng hợp, quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và Nhân dân Thủ đô, tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, chủ động đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt, huy động mọi nguồn lực, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, góp phần quan trọng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

 

         BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ

  LIÊN KẾT WEBSITE