Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra ngày càng sâu rộng, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin dẫn tới sự xuất hiện, bùng nổ và lan truyền mạnh các thông tin đa chiều. Mặt khác, xuất phát từ thực tiễn đổi mới đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, để bảo vệ những thành quả mà Đảng, nhân dân ta đã đạt được và tạo động lực cho quá trình đổi mới, xây dựng chủ chủ nghĩa xã hội ở những chặng đường tiếp theo, chúng ta cần phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc hệ thống tư tưởng, lý luận của Đảng, điển hình là luận điệu “Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”.
Luận điệu xuyên tạc “Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu phương Tây như Jean Lacouture, Bernard Fall, Philippe Devillers… Họ cho rằng Hồ Chí Minh không có tham vọng để trở thành nhà tư tưởng và đánh giá Người là một nhà hoạt động thực tiễn thiên tài. Theo quan điểm của họ một nhà tư tưởng phải đưa ra được một hệ thống lý thuyết mới và viết được những tác phẩm lý luận ở tầm khái quát, trừu tượng hóa cao. Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch dựa vào luận điểm của các nhà nghiên cứu phương Tây về Hồ Chí Minh đưa ra luận điệu “Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”. Luận điệu của các thế lực thù địch được thể hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự chắp vá cơ học tư tưởng văn hóa phương Tây với tư tưởng văn hóa phương Đông, không có gì sáng tạo, mới mẻ, độc đáo và không có tính nguyên lý, quy luật ở trong đó.
Thứ hai, trong các bài viết, bài nói và tác phẩm của Hồ Chí Minh phong cách diễn đạt, ngôn ngữ sử dụng là ngôn ngữ đời thường. Và cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh không có những tác phẩm lý luận viết ở trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa cao nên không thể nói Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng.
Thứ ba, sự kiện năm 1987, tại khóa họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNNESCO) đã ra Nghị quyết kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó công nhận Hồ Chí Minh là nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam và có tầm ảnh hưởng thế giới là sai lầm.
Tất cả những luận điệu của các thế lực thù địch đưa ra với mục đích là để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đưa Việt Nam đi theo con đường khác với con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Phủ nhận vai trò cũng như tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
Hồ Chí Minh có phải là nhà tư tưởng hay không?
Nhìn vào lịch sử phát triển của xã hội loài người, chúng ta thấy Thích Ca, chúa Giêxu, Khổng Tử là những nhà tư tưởng lỗi lạc và có tầm ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội loài người nhưng thực tế họ đâu có viết và để lại cho đời những tác phẩm lý luận kinh điển. Tuy nhiên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi: Có sự chuẩn bị kỹ càng về lý luận, có khả năng dự báo, xác định đúng hướng đi cho phong trào của quần chúng khi đang còn tự phát. Có tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng. Có khả năng tổ chức thành lập một chính đảng cách mạng để quy tụ, tập hợp quần chúng để đấu tranh. Có khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn cách mạng. Căn cứ vào những tiêu chí nhà tư tưởng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể khẳng định Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng. Bởi vì:
Hồ Chí Minh có sự chuẩn bị kỹ càng về lý luận, xác định đúng hướng đi cho phong trào của quần chúng khi đang còn tự phát và có khả năng dự báo xu hướng phát triển của cách mạng
Sự chuẩn bị kỹ càng về mặt lý luận là một tiêu chí quan trọng để đánh giá một cá nhân là nhà tư tưởng. Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là cả một quá trình tìm tòi, xây dựng, phát triển, hoàn thiện lý luận cách mạng cho dân tộc Việt Nam và bổ sung vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự chuẩn bị đó của Hồ Chí Minh trong bối cảnh cách mạng Việt Nam khủng hoảng đường lối cứu nước vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sau khi tìm ra lý luận giải phóng dân tộc vào tháng 7 năm 1920 đi theo con đường cách mạng vô sản dưới ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, Hồ Chí Minh luôn tích cực, chủ động và chuẩn bị kỹ càng tri thức lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin. Cụ thể, Hồ Chí Minh theo học tại trường Đại học Phương Đông (1923-1924), trường Quốc tế Lênin dành cho cán bộ cao cấp của các đảng anh em (1934-1935), Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản (1936-1938)… Trên nền tảng tri thức lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã viết những tác phẩm lý luận sắc bén như: Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng… Trong những tác phẩm kinh điển đó Hồ Chí Minh đã xây dựng cẩm nang lý luận giải phóng dân tộc dẫn lối dân tộc Việt Nam để đánh đổ chế độ thực dân phong kiến. Sự chuẩn bị kỹ càng về mặt lý luận còn được thể hiện ở chỗ Hồ Chí Minh chủ động xây dựng lý luận về chế độ xã hội mới đó là chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong điều kiện là một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa trải qua trình độ phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Mặt khác năng lực tổng kết thực tiễn, khả năng dự báo chính xác và chỉ ra được xu hướng vận động phát triển của cách mạng hội tụ trong con người Hồ Chí Minh là một phẩm chất không thể thiếu của nhà tư tưởng. Có thể thấy, thời đại Hồ Chí Minh sống thế giới có nhiều biến đổi to lớn như sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc và hình thành nên hệ thống các nước thuộc địa cùng với đó là thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra bước phát triển mới của lịch sử nhân loại. Trên hành trình cứu nước đi tìm lời giải cho bài toán độc lập cho dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh đã nắm bắt chính xác đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại, từ đó lựa chọn đúng đắn con đường giải phóng dân tộc cho cách mạng Việt Nam. Bằng năng lực tổng kết thực tiễn, phân tích các sự kiện trong và ngoài nước, Hồ Chí Minh đã dự báo chuẩn xác về xu hướng phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Cụ thể, năm 1924 trong bài “Đông Dương và Thái Bình Dương” Hồ Chí Minh đã dự báo về nguy cơ chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ: “Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó”[1]; “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh”[2]. Năm 1941, Người đã viết tập diễn ca “Lịch sử nước ta” ở câu kết, Người khẳng định: “Việt Nam độc lập - 1945”. Trong bài viết trên Báo Việt Nam độc lập, số 114, ngày 1/1/1942, Người đã đưa ra dự báo về thời cơ để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta được độc lập, tự do”[3]… Những dự báo chuẩn xác này của Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh có tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng
Tầm nhìn sâu rộng, bao quát thời đại của nhà tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong cách xác định hướng đi, cách đi và lựa chọn con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, trong xã hội Việt Nam tồn tại hai luồng quan điểm: Một là, cam chịu số phận nô lệ, coi thực dân Pháp xâm lược dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ như một định luật, điều hiển nhiên. Hai là, là không cam chịu thân phận nô lệ, đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc bằng con đường là hướng sang phương Đông (Đông du), tìm kiếm một sự giúp đỡ của các nước “đồng chủng, đồng văn”. Khác biệt với các nhà yêu nước tiền bối và đương thời, Hồ Chí Minh đã từ chối lời mời Đông du sang Nhật Bản học tập của cụ Phan Bội Châu mà đã chọn cho mình một hướng đi mới là “Tây du”. Hồ Chí Minh sang phương Tây không phải là một sự ngẫu nhiên mà sự lựa chọn có chủ đích một tầm nhìn xa, trông rộng. Khi sang phương Tây, Hồ Chí Minh đến những nước tư bản phát triển nhất (Mỹ, Anh, Pháp) để kiếm tìm một giải pháp tốt nhất cho dân tộc. Khi nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, Hồ Chí Minh nhận thấy nó không phù hợp với thực tiễn Việt Nam “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[4]. Chiến tranh thế giới lần thế nhất (1914-1918) bùng nổ, phe Đồng minh gồm: Anh, Pháp, Mỹ đã tuyên truyền, cổ vũ rầm rộ cho cái gọi là “chủ nghĩa Wilson” với “Bản tuyên bố 14 điểm”. Trong điểm số 5 của “Bản tuyên bố 14 điểm” đã hứa hẹn: giải quyết rộng rãi, tự do và hoàn toàn vô tư tất cả các yêu sách về thuộc địa. Hồ Chí Minh đã viết bản Yêu sách 8 điểm đòi quyền tự do dân chủ cho nhân dân An Nam gửi lên Hội nghị Vécxây (1919) và không được hội nghị giải quyết. Từ đó Hồ Chí Minh cho rằng “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn”. Năm 1919, Hồ Chí Minh trở thành đảng viên của Đảng Xã hội Pháp, nhưng lúc này Đảng Xã hội Pháp đang phân hóa sâu sắc về chính trị “trong các chi bộ của Đảng Xã hội, người ta bàn cãi sôi nổi về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ hai, hay là nên tổ chức một Quốc tế thứ hai rưỡi, hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lênin?”. Đối với Hồ Chí Minh “vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?” và “Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên…Có mấy đồng chí đã trả lời: Đó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo”[5]. Sau khi đọc toàn văn “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng ngày 16 và 17/7/1920 trên báo Nhân đạo, Hồ Chí Minh đã “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[6]. Tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp (12/1920), Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở còn được thể hiện trong cách Hồ Chí xác định những vấn đề mang tính chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam. Cụ thể, Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc không những phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc mà với sức mạnh và tính chủ động của mình, cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản và bằng thắng lợi đó giúp cho những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn. Trong khi đó Quốc tế Cộng sản đến năm 1928 vẫn cho rằng những dân tộc thuộc địa chỉ có thể giành độc lập dân tộc khi cách mạng vô sản ở các nước chính quốc thành công. Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ cách mạng muốn thành công thì phải có “đảng cách mệnh” và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong đó nền tảng là liên minh công - nông và cách mạng Việt Nam phải là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh còn xác lập, kiến tạo mô hình xã hội mới gắn với các thiết chế hiện đại. Người đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ các nước phương Tây để tạo nên mô hình thể chế chính trị tương lai cho đất nước. Đó là mô hình Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một mô hình Nhà nước dân chủ ở đó chủ thể của quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Như vậy, tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng là phẩm chất quý giá trong con người Hồ Chí Minh, là căn cứ quan trọng để khẳng định Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng.
Hồ Chí Minh có khả năng tổ chức để thành lập một chính đảng cách mạng để quy tụ, tập hợp quần chúng đấu tranh
Hồ Chí Minh nhà tổ chức thiên tài đặt nền móng cho việc thành lập và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản và ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Hồ Chí Minh từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước làm cho phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên tự giác và phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản. Tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập ở số nhà 5D, Hàm Long, Hà Nội. Ngày 1/5/1929, tại Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hương Cảng (Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc Kỳ đưa ra đề nghị thành lập Đảng Cộng sản. Đề nghị đó không được chấp nhận, trở về nước, ngày 17/6/1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản 5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25/7/1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9/1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ. Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Hồ Chí Minh với tư cách là đại diện cho tổ chức Quốc tế Cộng sản và là người duy nhất có đủ năng lực, uy tín đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành chính đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Từ ngày 03 đến 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã diễn ra và kết quả là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt cho phong trào cách mạng Việt Nam, thể hiện năng lực tổ chức thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngay từ khi Đảng ra đời “Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”[7].
Hồ Chí Minh có khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn cách mạng
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh gặp rất nhiều những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn. Một trong những khó khăn, thử thách đó là sự khác biệt về quan điểm cách mạng giữa Hồ Chí Minh với Quốc tế Cộng sản. Vào cuối thập niên 20 đầu thập niên 30 của thế kỷ XX hoạt động của Quốc tế Cộng sản bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng “tả” nhấn mạnh vấn đề đấu tranh giai cấp. Trong đó, Quốc tế Cộng sản đánh giá chưa đúng về cách mạng thuộc địa chỉ chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân, phủ định tinh thần cách mạng của các giai cấp tầng khác, không tính đến đặc thù riêng của từng dân tộc, chủ quan đánh giá chủ nghĩa tư bản đã suy yếu. Trong khi Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng thuộc địa là “dân tộc cách mệnh”, trước hết là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Và tại Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng tháng 10 năm 1930 đã chỉ trích và phê bình đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh và cho rằng đã phạm những sai lầm chính trị rất nguy hiểm. Đặc biệt, sau sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt tại Hồng Kông năm 1931 và được thả tự do dường như Hồ Chí Minh bị Quốc tế Cộng sản nghi ngờ và hạn chế tham gia vào các hoạt động cách mạng. Trong thư gửi Ban chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1935, Vaxilieva đã kiến nghị: “Đối với đồng chí Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi cho rằng hai năm tới đây, đồng chí ấy cần phải nghiêm túc, nỗ lực học tập và không được làm một việc gì khác”[8]. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh luôn kiên định bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và giai cấp, về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, cách mạng vô sản và đấu tranh với những quan điểm tả khuynh của Quốc tế Cộng sản. Tuy nhiên, thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới đã chứng minh quan điểm của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn khi chủ nghĩa phát xít xuất hiện, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (5/1941) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh cách mạng Việt Nam đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong đó giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Điều đó chứng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh đã chiến thắng, tiếp tục dẫn dắt soi đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành lấy những thắng lợi vĩ đại.
Tóm lại, trên cơ sở phân tích dựa vào những tiêu chí để trở thành nhà tư tưởng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin có thể thấy Hồ Chí Minh thỏa mãn đầy đủ những tiêu chí để trở thành nhà tư tưởng, thậm chí là nhà tư tưởng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng của các thế lực thù địch với âm mưu thâm độc của chúng cũng không thể xóa nhòa và phủ định sạch trơn những đóng góp to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Nguyễn Như Quảng
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.263-264.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.264.
[3] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.250-251.
[4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.296.
[5]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.562.
[6]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.562.
[7]. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr.60.
[8]. Trần Thị Ngọc Thúy chủ biên (2018), Bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Bách khoa Hà Nội, tr.33.
Đảng ủy xã An Khánh tăng cường lãnh đạo xây dựng Đảng, quyết liệt triển khai nhiệm vụ trọng tâm sau sắp xếp tổ chức thôn, tổ dân phố
Xu hướng phát triển đô thị tạo ra dư địa thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ mở rộng đầu tư
Phường Kim Liên liên kết, phối hợp với 6 bệnh viện, mở rộng mạng lưới chăm sóc sức khỏe chất lượng cao cho người dân
Xã Chuyên Mỹ hợp nhất 5 hợp tác xã, mở hướng phát triển nông nghiệp hiện đại gắn với làng nghề