Chính trị

Chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII
Ngày đăng 13/12/2018 07:00

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII vừa khai mạc, nhiều tham luận của Hội Nông dân các cấp gửi tới Đại hội, nêu lên kinh nghiệm hay, những mô hình hiệu quả tạo sức lan tỏa trong công tác xây dựng hội, thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền cơ sở trên các vùng, miền cả nước.

Thúc đẩy tri thức hóa nông dân

Hiện nay thế giới và Việt Nam đang bước vào giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0, với nhiều cơ hội mới nhưng thách thức cũng không nhỏ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh hoạt của bà con nông dân ở địa bàn nông thôn. Lao động trẻ chuyển dịch về đô thị, khu công nghiệp ngày càng nhiều; đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, lao động nông nghiệp giảm dần và ngày càng lớn tuổi; điều kiện, kỹ năng sản xuất để phát triển kinh tế nông nghiệp hạn chế; trình độ sản xuất không đồng đều, nông dân chưa nhận thức hết về tầm quan trọng của nông nghiệp công nghệ cao và chất lượng đào tạo nghề chưa cao.

Vấn đề đặt ra là người nông dân cần có những thay đổi gì trong tư duy và hành động; có yêu cầu gì cho việc hoạch định phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của cả nước nói chung, của tỉnh Tiền Giang nói riêng, để có đủ sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Cho nên, việc “tri thức hóa” nông dân là một hướng đi đúng để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thường xuyên được tiếp cận, tiếp thu, bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm, cách thức, phương pháp làm ăn mới sẽ là bước chuyển căn bản, nhằm tạo ra một lực lượng lao động nông thôn có trình độ, kỹ năng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết T.Ư 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Thực hiện vấn đề nêu trên, thời gian qua các cấp Hội trong tỉnh Tiền Giang đã có sự tập trung và xem đó là điểm nhấn mang tính đột phá đem lại kết quả đối với công tác Hội và phong trào nông dân. Muốn vậy, cần phải thực hiện tốt những giải pháp: Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ và xây dựng cánh đồng lớn, vùng nguyên liệu tập trung gắn với liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, cùng với hợp tác xã và nông dân tham gia xây dựng chuỗi giá trị trong mô hình liên kết (nhà nông, Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp). Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội cơ sở có đủ kiến thức, trình độ, tinh thần trách nhiệm… đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Nội dung cần quan tâm tiếp theo là đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực trong xã hội nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đặt ra nhiệm vụ: Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ cơ bản về điện, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin..., cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích nông dân làm giàu hợp pháp. Vận động nông dân ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhất là công nghệ cao và cơ giới hóa nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản, chú trọng các khâu công nghệ sau thu hoạch như bảo quản, chế biến, áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm thế mạnh của tỉnh như: Xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng Ngũ Hiệp, vú sữa Lò Rèn...

Vấn đề nữa cần đổi mới là công tác hỗ trợ nông dân, hướng dẫn nông dân phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp gắn với hỗ trợ vốn, vật tư, chuyển giao khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; có kế hoạch đào tạo nghề cho nông dân, giúp nông dân tiếp cận có hiệu quả các chính sách đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức tích cực tham gia vào các hoạt động khoa học và công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống nhất là lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.

Đồng thời, tăng cường thông tin tuyên truyền để người dân hiểu đúng về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là hỗ trợ công nghệ thông tin, in-tơ-nét với những nội dung cụ thể, thiết thực giúp nông dân nhanh chóng tận dụng cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong ngành nông nghiệp mang đến cho Việt Nam.

ĐỖ TẤN HÙNG

Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Tiền Giang

Nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội

Trong 5 năm qua, Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam đã thành lập các đoàn giám sát và tổ chức giám sát chính quyền các cấp, các đại lý cung ứng vật tư nông nghiệp tại năm huyện, thị xã (Thăng Bình, Núi Thành, Duy Xuyên, Điện Bàn và Đại Lộc) về công tác quản lý, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp.

Nhiệm vụ của các đoàn giám sát nhằm mục đích phát hiện, ngăn chặn, xử lý và đề nghị xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp; đồng thời phát hiện những nhân tố mới, những mặt tích cực trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp để tuyên truyền, nhân rộng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên nông dân. Thông qua các hoạt động giám sát, kịp thời phát hiện những hạn chế, yếu kém trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; kiến nghị với cơ quan chức năng có các giải pháp hữu hiệu tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Việc thực hiện Quyết định 217 của Bộ Chính trị cũng đã được Hội Nông dân cấp huyện và cơ sở tổ chức thực hiện một cách hiệu quả và đồng bộ. Trong 5 năm qua, cấp huyện và cơ sở đã tổ chức được 817 cuộc giám sát. Trên cơ sở kế hoạch phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp huyện và xã, Hội Nông dân đã chọn những nội dung phù hợp với lĩnh vực công tác Hội và phong trào nông dân để tổ chức giám sát thực hiện. Những ý kiến tham gia phản biện phần lớn được các cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét tiếp thu, điều chỉnh, bổ sung để phù hợp yêu cầu thực tiễn. Kết quả bước đầu đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, hội viên nông dân từ tỉnh đến cơ sở trong việc thực hiện Quy chế giám sát, phản biện xã hội. Từ đó tạo sự thống nhất về nhận thức, phương pháp, cách thức triển khai thực hiện.

Từ thực tiễn công tác, Hội Nông dân tỉnh rút ra một số kinh nghiệm bước đầu. Đó là công tác giám sát, phản biện xã hội phải có sự quan tâm lãnh đạo thường xuyên của cấp ủy đảng, sự phối hợp tích cực, trách nhiệm của chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội. Phát huy vai trò chủ động, chủ trì, xác định nội dung giám sát, phản biện xã hội, kịp thời báo cáo để Mặt trận tổng hợp xin ý kiến thống nhất của cấp ủy cùng cấp để tránh trùng lặp, chồng chéo trong quá trình giám sát nhằm tránh gây phiền hà, làm ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của đơn vị được giám sát. Kết hợp chặt chẽ giữa việc nắm bắt dư luận xã hội, tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của hội viên để xác định nội dung giám sát, phản biện xã hội phù hợp với tình hình thực tiễn.

Hoạt động giám sát, phản biện xã hội cần phải được tiến hành chặt chẽ, đúng quy trình, quy định. Đồng thời phải có cách làm, phương thức tiến hành linh hoạt, phù hợp điều kiện về nhân lực, kinh phí, đặc điểm cụ thể của từng địa phương. Việc tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội của các cấp Hội phải khách quan, trung thực, bảo đảm căn cứ pháp lý, khoa học và thực tiễn; các ý kiến đưa ra phải bảo đảm hiệu quả, tính khả thi.

Để thực hiện có hiệu quả cao hơn trong thời gian tới, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của mỗi cán bộ, hội viên, nông dân. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng chuyên mục nhằm phổ biến, phản ánh kết quả triển khai thực hiện tại các địa phương, tích cực tuyên truyền về các điển hình tốt, sáng tạo. Qua đó đề xuất, kiến nghị các bên phối hợp kịp thời chấn chỉnh, khắc phục hiệu quả những bất cập trong quá trình giám sát và phản biện xã hội. Cần xây dựng và ban hành “mẫu hóa” quy trình giám sát, phản biện xã hội để dễ thực hiện và tạo sự thống nhất về mặt nội dung, hình thức của văn bản. Thường xuyên tổ chức tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ về giám sát, phản biện xã hội cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp.

VŨ VĂN THẨM

Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam

Xây dựng mô hình “điểm sáng vùng biên”

Xác định rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm của Hội Nông dân trong tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc. Các cấp Hội trong tỉnh đã chủ động quán triệt và triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn bản pháp luật về bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Trong nhiệm kỳ 2013-2018, các cấp Hội trong tỉnh thường xuyên phối hợp Bộ đội Biên phòng tổ chức các buổi tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biên giới quốc gia; về Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng; mục đích, ý nghĩa, nội dung “Ngày Biên phòng toàn dân”; kết quả chương trình phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

Hội Nông dân phối hợp các cơ quan, ban, ngành tổ chức các hoạt động xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc; phổ biến và vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các Hiệp định, Hiệp ước đã ký kết giữa hai Chính phủ; tuyên truyền về âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Hằng năm, các cấp Hội cơ sở, các đồn Biên phòng tổ chức tốt "Ngày Biên phòng toàn dân" tại tất cả 46 xã, thị trấn thuộc chín huyện biên giới của tỉnh, nhằm tuyên truyền vận động nhân dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân; thực hiện theo đúng nội dung các Hiệp định, Quy chế biên giới, ý thức về quốc gia, quốc giới; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao... Thông qua ngày hội, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, tạo không khí vui tươi, lành mạnh ở địa bàn biên giới; nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về "Ngày hội Biên phòng toàn dân", về nhiệm vụ xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới ngày càng được nâng cao... Thực hiện phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc và an ninh trật tự xóm (bản) khu vực biên giới" và phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”. Kết quả, trong 5 năm, Cao Bằng đã thành lập được 158 Tổ tự quản đường biên, mốc biên giới quốc gia với 6.099 thành viên; 640 Tổ tự quản an ninh trật tự với 18.716 thành viên; tổ chức tuần tra 15.367 lần với 86.768 lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tham gia; thực hiện phát quang đường tuần tra, đường thông tầm nhìn biên giới; nhân dân kịp thời phát hiện và cung cấp cho lực lượng bộ đội biên phòng, công an gần 11.000 nguồn tin có giá trị phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm... Thông qua việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, bộ mặt nông thôn khu vực biên giới có nhiều đổi thay, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ở khu vực biên giới ngày càng được cải thiện và nâng lên.

ĐỂ đạt được những kết quả nêu trên, trong quá trình triển khai, chúng tôi cho rằng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng, quản lý điều hành của chính quyền các cấp với sự tham gia phối hợp chặt chẽ của các ngành (trong đó có Hội Nông dân các cấp phối hợp bộ đội biên phòng, công an). Đây là yếu tố tiên quyết để thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Hơn nữa, xây dựng đội ngũ cán bộ, hội viên nông dân nòng cốt ở vùng biên giới phối hợp các lực lượng làm chỗ dựa cho nhân dân trong việc phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự. Đây là đội ngũ có khả năng tuyên truyền, vận động, tập hợp được quần chúng nhân dân vùng biên giới tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội vùng biên giới nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Bên cạnh đó, chú trọng làm tốt công tác thi đua khen thưởng, biểu dương, nhân rộng những cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến. Định kỳ sơ, tổng kết rút kinh nghiệm tìm chọn những gương người tốt việc tốt, mô hình điển hình tiên tiến để tuyên truyền và nhân rộng, thúc đẩy các mô hình phát triển rộng khắp. Phát huy tính tự quản của quần chúng nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên, hội viên nòng cốt, người có uy tín ở những nơi phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

DƯƠNG HÙNG DŨNG

Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng

Phát huy vai trò của tổ hợp tác trong sản xuất nông nghiệp

Tỉnh Bến Tre hiện có 67 hợp tác xã với 22.063 thành viên đang hoạt động trên các lĩnh vực, trong đó có 54 hợp tác xã trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và tổng hợp; 13 hợp tác xã trong lĩnh vực thủy sản và 904 tổ hợp tác.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua kinh tế hợp tác ở Bến Tre vẫn còn những “điểm nghẽn” chưa được khắc phục hiệu quả như: hoạt động của một số tổ hợp tác, hợp tác xã hiệu quả còn thấp, chưa tuân thủ nguyên tắc theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012; còn hạn chế và yếu trên nhiều phương diện như vốn đầu tư, ứng dụng công nghệ, trình độ, kỹ năng quản lý, khả năng liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp, nhận thức của một bộ phận cán bộ, hội viên và người dân về vai trò và tầm quan trọng của kinh tế hợp tác trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa chưa sâu sắc.

Mặc dù công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về kinh tế hợp tác có sự quan tâm chỉ đạo nhưng thực hiện chưa thường xuyên, thiếu sự phối hợp đồng bộ và sự vào cuộc quyết liệt của các tổ chức đoàn thể và chính quyền cơ sở. Lối tư duy về hợp tác xã kiểu cũ còn nặng nề, chưa xem tổ hợp tác, hợp tác xã hiện nay là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế hộ nông dân và là đối tác hợp tác hiệu quả của doanh nghiệp khi đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Việc chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất của các tổ hợp tác, hợp tác xã còn hạn chế, ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả hoạt động…

Qua thực tiễn hoạt động của các tổ hợp tác, hợp tác xã tại tỉnh, chúng tôi khẳng định chủ trương phát triển sản xuất theo mô hình kinh tế hợp tác gắn với chuỗi giá trị là xu hướng tất yếu, phù hợp điều kiện, tình hình thực tế của địa phương. Kinh tế tập thể mà nòng cốt là tổ hợp tác, hợp tác xã là bộ phận của nền kinh tế, là một thành tố không thể thiếu trong chuỗi sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Thời gian tới, cần tiếp tục nâng cao nhận thức trong cán bộ, hội viên, nông dân về bản chất, vị trí, vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; tiếp tục đổi mới và đa dạng hóa công tác tuyên truyền một cách thiết thực, hiệu quả.

Bên cạnh đó, tiếp tục thành lập và nhân rộng các mô hình kinh tế hợp tác dựa trên nhu cầu hợp tác tự nguyện của các thành viên, vì lợi ích của thành viên tổ hợp tác, hợp tác xã và cộng đồng. Chú trọng thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã trong nông nghiệp ở các vùng có các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Xây dựng mô hình hợp tác xã chuyên ngành, phát triển đa dạng các loại hình hợp tác xã ở các địa phương với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa khác nhau nhằm phát huy thế mạnh tiềm năng kinh tế của địa phương. Xây dựng các mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị nhằm mục tiêu tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho các thành viên, trên cơ sở đó tổng kết, tuyên truyền, phổ biến và nhân rộng nhiều loại hình. Vấn đề thứ hai là tổ chức, củng cố lại hoạt động của các hợp tác xã theo đúng bản chất hợp tác xã, Luật Hợp tác xã năm 2012 và các văn bản hướng dẫn; phát huy vai trò làm chủ của thành viên; vận động thành viên hợp tác xã góp vốn và nâng mức vốn góp; vận động hợp tác xã thu hút thêm thành viên, hợp nhất, sáp nhập hợp tác xã cùng ngành, nghề và địa bàn hoạt động để tăng tiềm lực tài chính và quy mô hoạt động của hợp tác xã.

Các mô hình kinh tế hợp tác hoạt động hiệu quả sẽ giúp ngành nông nghiệp, nông thôn ở địa phương phát triển bền vững, hài hòa được lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế.

ĐOÀN VĂN ĐẢNH

Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Bến

Nguồn: Báo Nhân dân điện tử

  LIÊN KẾT WEBSITE